Home / Hôn nhân / Các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt mới nhất

Các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt mới nhất

Các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt bao gồm những trường hợp nào? Trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, hành vi “ngoại tình” (được hiểu là người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, có chồng mà chung sống như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng) là hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp ngoại tình đều bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự. Dưới đây là các trường hợp thực tế hành vi này không bị cơ quan chức năng xử phạt.

Các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt

1. Ngoại tình nhưng không “Chung sống như vợ chồng”

Pháp luật hiện hành (Nghị định 82/2020/NĐ-CP và Bộ luật Hình sự) chỉ xử phạt khi có hành vi “chung sống như vợ chồng”. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, chung sống như vợ chồng là việc nam nữ sống chung, coi nhau là vợ chồng, có tài sản chung, có con chung, được hàng xóm và xã hội coi như vợ chồng…

Do đó, các trường hợp sau đây chưa đủ căn cứ để xử phạt:

  • Ngoại tình tư tưởng: Chỉ nhắn tin, tán tỉnh, hẹn hò, có tình cảm yêu đương qua lại nhưng không sống chung.

  • Quan hệ lén lút (tình một đêm, bóc bánh trả tiền): Quan hệ tình dục nam nữ bất chính, thỉnh thoảng gặp nhau ở nhà nghỉ, khách sạn rồi đi về, không lập dòng, không tổ chức cuộc sống chung.

Cụm từ “Chung sống như vợ chồng” là từ khóa pháp lý cốt lõi. Trong các vụ việc thực tế, việc chứng minh một cặp đôi có “chung sống như vợ chồng” hay không cực kỳ khó khăn, và đây cũng là lý do vì sao hầu hết các vụ bắt ghen thông thường đều rơi vào trường hợp không đủ yếu tố cấu thành để xử phạt.

Để bị coi là “chung sống như vợ chồng”, hành vi của hai người phải hội đủ các điều kiện mang tính chất “bền vững” và “công khai”, chứ không chỉ dừng lại ở phương diện tình cảm hay sinh lý.

Không chung sống như vợ chồng là một trong các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt phổ biến nhất hiện nay. Dưới đây là các dấu hiệu cốt lõi chứng minh một mối quan hệ chưa đủ yếu tố cấu:

– Thiếu tính liên tục và thường xuyên (Về mặt trú ngụ)

Thế nào là chưa đủ: Hai người chỉ thỉnh thoảng gặp nhau, hẹn hò, rủ nhau đi du lịch chung vài ngày, hoặc thường xuyên hẹn gặp ở nhà nghỉ, khách sạn, căn hộ dịch vụ theo giờ/theo ngày rồi ai về nhà nấy.

Yếu tố pháp lý: Pháp luật yêu cầu phải có việc ở chung một nhà một cách thường xuyên, liên tục. Nếu họ không đăng ký tạm trú/thường trú chung, không cùng sinh hoạt dưới một mái nhà hàng ngày thì không cấu thành sống chung.

– Không có sự gắn kết về kinh tế (Tài sản chung)

Thế nào là chưa đủ? Tiền ai nấy tiêu, việc ai nấy làm. Người này có thể chu cấp tiền bạc, tặng quà cáp, mua xe, lo chi phí cho người kia theo dạng “bồ nhí”, nhưng dòng tiền mang tính chất cho – nhận một chiều.

Yếu tố pháp lý: Để cấu thành “như vợ chồng”, hai bên phải có sự góp chung quỹ tài sản, cùng chi trả tiền điện, nước, tiền thuê nhà, mua sắm vật dụng gia đình chung (tivi, tủ lạnh, giường tủ) hoặc cùng đứng tên sở hữu tài sản tích lũy chung.

– Không công khai mối quan hệ với xã hội

Thế nào là chưa đủ: Mối quan hệ hoàn toàn trong bóng tối, lén lút. Khi ra đường hoặc gặp người quen, họ phủ nhận quan hệ, chỉ nhận là bạn bè, đồng nghiệp hoặc đối tác công việc.

Yếu tố pháp lý: Sống chung như vợ chồng đòi hỏi phải có sự thừa nhận nhận thức từ cộng đồng xung quanh. Nghĩa là hàng xóm láng giềng, chủ nhà trọ, tổ trưởng dân phố hoặc họ hàng đều nhìn nhận họ là một cặp vợ chồng (dù không có giấy kết hôn). Nếu xung quanh không ai biết hoặc không ai coi họ là vợ chồng, thì chưa đủ yếu tố.

– Không có ràng buộc về mặt con cái

Thế nào là chưa đủ: Hai người chưa từng có con chung, hoặc nếu có thai nhưng chủ động giải quyết riêng, không cùng nhau thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ như một gia đình.

Yếu tố pháp lý: Việc có con chung và cùng nhau nuôi dạy, để đứa trẻ gọi cả hai là bố mẹ một cách công khai là một trong những chứng cứ mạnh nhất để cấu thành việc sống chung. Thiếu yếu tố này, việc chứng minh sẽ lỏng lẻo đi rất nhiều.

Ví dụ:

– Trường hợp không đủ yếu: Ông X (đã có vợ) thuê một căn hộ cho cô Y ở. Mỗi tuần ông X ghé qua 2-3 lần vào buổi tối, cho cô Y tiền sinh hoạt phí rồi về nhà với vợ. Hàng xóm chỉ biết ông X là khách ghé chơi. -> Không đủ căn cứ xử phạt hành chính.

– Trường hợp đủ yếu tố: Ông X và cô Y thuê nhà sống chung từ tháng này qua tháng khác. Họ cùng đi chợ, nấu ăn, công khai với hàng xóm họ là vợ chồng mới cưới, ông X đăng ký tạm trú tại đó. -> Đủ yếu tố cấu thành để xử phạt.

Chính vì những ranh giới chặt chẽ này, các chứng cứ như tin nhắn hẹn hò, hình ảnh ôm ấp, hay thậm chí là việc người vợ bắt ghen tại khách sạn chỉ chứng minh được có quan hệ bất chính, chứ không thể dùng làm bằng chứng chứng minh “chung sống như vợ chồng” để cơ quan chức năng ra quyết định phạt tiền hay xử lý hình sự.

2. Ngoại tình nhưng không gây hậu quả nghiêm trọng (Đối với chế tài Hình sự)

Theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 về “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”, người ngoại tình chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù) nếu thuộc một trong các trường hợp:

  • Làm cho quan hệ hôn nhân của một trong hai bên dẫn đến ly hôn.

  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

  • Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.

Ngược lại: Nếu hành vi sống chung như vợ chồng chưa dẫn đến ly hôn (vợ/chồng vẫn tha thứ, gia đình chưa đổ vỡ), chưa làm ai tự sát và trước đó chưa từng bị phạt hành chính về hành vi này, thì không bị xử lý hình sự (nhưng vẫn có thể bị xử phạt hành chính nếu có đủ chứng cứ sống chung).

Ranh giới giữa một vụ ngoại tình chỉ bị phạt hành chính (hoặc xử lý nội bộ) và một vụ ngoại tình phải đi tù chính là cụm từ: “Gây hậu quả nghiêm trọng”.

Nếu một người có hành vi chung sống như vợ chồng với người khác, nhưng không để lại những hậu quả nặng nề được luật định, thì cơ quan điều tra sẽ không thể khởi tố vụ án hình sự được.

Cụ thể, theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 (Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng), hành vi ngoại tình (chung sống như vợ chồng) cấu thành tội phạm và bị xử lý hình sự khi và chỉ khi thuộc các trường hợp sau. Nếu không thuộc, nghĩa là “chưa gây hậu quả nghiêm trọng”:

– Chưa làm cho quan hệ hôn nhân của một trong hai bên dẫn đến ly hôn

Thế nào là chưa nghiêm trọng? Sau khi sự việc chung sống như vợ chồng bị phát hiện, người vợ hoặc người chồng danh chính ngôn thuận lựa chọn tha thứ, bỏ qua, gia đình quay lại hòa thuận. Hoặc hai bên có rạn nứt, có ly thân nhưng chưa ra Tòa án làm thủ tục ly hôn, hoặc Tòa án đang hòa giải và chưa ra quyết định/bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật.

Khi chưa có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án với lý do xuất phát từ hành vi ngoại tình này, cơ quan chức năng không có căn cứ xác định hậu quả “dẫn đến ly hôn” để xử lý hình sự.

– Chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này

Thế nào là chưa nghiêm trọng? Đây là lần đầu tiên hành vi chung sống như vợ chồng của cặp đôi này bị cơ quan chức năng (UBND xã/phường, Thanh tra ngành Tư pháp…) lập biên bản và ra quyết định xử phạt hành chính (phạt tiền từ 3 – 5 triệu đồng theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP).

Luật quy định phải “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” thì mới bị xử lý hình sự ở lần tiếp theo. Nếu đây là lần đầu tiên họ bị phát hiện sống chung như vợ chồng một cách chính thức, họ sẽ chỉ dừng lại ở mức bị phạt tiền, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

– Không có hành vi cực đoan dẫn đến tự sát

Thế nào là chưa nghiêm trọng? Việc ngoại tình dù gây đau khổ, tổn thương, cãi vã, nhưng người vợ/chồng hoặc con cái của bên bị phản bội không rơi vào trạng thái u uất đến mức tự tước đoạt mạng sống của mình.

Khoản 2 Điều 182 quy định mức án tù từ 6 tháng đến 3 năm nếu hành vi ngoại tình “Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát”. Nếu không có hậu quả đau lòng này xảy ra, yếu tố định khung hình sự này bị loại trừ. Và đây cũng chính là một trong các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt phổ biến nhất, bởi ít khi nào một người bị phản bội trong hôn nhân mà phải nghĩ đến cái chết bao giờ.

– Chưa có quyết định của Tòa án buộc chấm dứt việc chung sống

Thế nào là chưa nghiêm trọng? Tòa án chưa từng ra một phán quyết hoặc quyết định chính thức nào yêu cầu hai người này phải chấm dứt hành vi chung sống như vợ chồng.

Theo cấu thành của tội này, nếu Tòa án đã ra quyết định buộc hủy bỏ việc chung sống như vợ chồng mà vẫn cố tình duy trì, ở chung, bất chấp phán quyết của Tòa thì mới đủ yếu tố đẩy khung hình sự lên.

Ví dụ: Ông A có vợ, ra ngoài thuê nhà ở hẳn với cô B như vợ chồng. Người vợ thuê thám tử theo dõi ngoại tình và phát hiện sự việc, đến đánh ghen, chụp ảnh, quay phim làm bằng chứng và làm đơn tố cáo gửi Công an.

Tuy nhiên, vì ông A chưa từng bị phạt hành chính về việc này, người vợ sau đó vì thương con nên không nộp đơn ly hôn ra Tòa, và gia đình cũng không ai tự tử. Trong trường hợp này, hành vi của ông A và cô B được coi là chưa gây hậu quả nghiêm trọng về mặt hình sự. Cơ quan Công an sẽ chuyển hồ sơ sang UBND cấp xã/huyện để xử phạt hành chính (phạt tiền) chứ không thể bỏ tù ông A hay cô B.

3. Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng là 1 năm.

Nếu hành vi “chung sống như vợ chồng” đã chấm dứt hoàn toàn và sau 1 năm mới bị phát hiện hoặc mới có đơn tố cáo, thì cơ quan chức năng sẽ không ra quyết định xử phạt hành chính nữa (tuy nhiên vẫn có thể lập biên bản ghi nhận sự việc).

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là thời hạn do pháp luật quy định mà quá thời hạn đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không được ra quyết định xử phạt tiền hay áp dụng các hình thức phạt chính đối với người vi phạm nữa.

Đối với hành vi ngoại tình (xác định chính xác là hành vi chung sống như vợ chồng), thời hiệu và cách tính được quy định rất cụ thể theo Luật Xử lý vi phạm hành chính hiện hành.

Theo điểm a khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là 01 năm.

Cách tính thời hiệu

Việc tính thời hiệu 01 năm này phụ thuộc hoàn toàn vào việc hành vi sống chung đó đang diễn ra hay đã chấm dứt. Đây là điểm mấu chốt mà rất nhiều người thường nhầm lẫn:

hành vi Cách tính thời hiệu Khả năng bị xử phạt
Đã chấm dứt hoàn toàn

Tính từ ngày hành vi chấm dứt.

(Ví dụ: Cặp đôi đã dọn ra ở riêng, không còn sống chung với nhau nữa kể từ ngày 01/01/2025).

• Nếu phát hiện/tố cáo trước 01/01/2026: Vẫn bị phạt tiền.

• Nếu đến ngày 02/01/2026 mới tố cáo: Hết thời hiệu, không bị phạt tiền.

Đang tiếp diễn

Tính từ ngày người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm.

(Nghĩa là dù họ đã sống chung lén lút với nhau 2 năm, 3 năm hay 5 năm đi chăng nữa nhưng hiện tại vẫn đang ở chung).

Luôn luôn còn thời hiệu.

Cơ quan chức năng lập biên bản tại thời điểm phát hiện thì thời hiệu lúc này mới bắt đầu chạy, do đó chắc chắn sẽ bị xử phạt.

Hết thời hiệu thì cơ quan chức năng sẽ xử lý thế nào?

Khi người vợ/chồng nộp đơn tố cáo kèm chứng cứ, nếu cơ quan có thẩm quyền (chủ tịch UBND xã/phường/quận/huyện) xác định hành vi sống chung đã kết thúc vượt quá 01 năm, họ sẽ giải quyết như sau:

  • Không ra quyết định phạt tiền: Người vi phạm sẽ không phải nộp mức phạt từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng (theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP.).

  • Vẫn có quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Nếu hành vi đó để lại hệ quả cần xử lý, cơ quan chức năng vẫn có thể ra quyết định buộc áp dụng các biện pháp khắc phục (nếu luật có quy định cụ thể cho hành vi đó).

  • Giá trị chứng cứ không thay đổi: Dù không bị phạt tiền do hết thời hiệu hành chính, biên bản xác minh của cơ quan Công an hoặc UBND về việc “hai người này đã từng có hành vi chung sống như vợ chồng” vẫn có giá trị pháp lý tuyệt đối trước Tòa án khi giải quyết vụ án ly hôn, phân chia tài sản hoặc giành quyền nuôi con.

Tóm lại: “Hết thời hiệu” chỉ giúp người ngoại tình né được khoản tiền phạt hành chính từ vài triệu đồng của Nhà nước nếu họ đã “chia tay” nhau được hơn 1 năm. Nó hoàn toàn không có tác dụng tẩy trắng hành vi vi phạm, và bên bị phản bội vẫn dùng chính hồ sơ đó để làm lợi thế tại Tòa khi ly hôn.

4. Không có đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi ngoại tình

Trong thực tế, đây là lý do phổ biến nhất khiến người ngoại tình không bị xử phạt. Để cơ quan chức năng ra quyết định xử phạt, bên tố cáo phải cung cấp được chứng cứ xác thực chứng minh hai người sống chung như vợ chồng.

Nếu chỉ có tin nhắn nhắn tin qua lại, hình ảnh đi chơi cùng nhau, hoặc clip bắt ghen tại nhà nghỉ… thì cơ quan chức năng thường đánh giá là chưa đủ chứng cứ vững chắc để chứng minh hành vi “chung sống như vợ chồng”. Do thiếu chứng cứ pháp lý nên không thể ra quyết định xử phạt.

Trong thực tế đời sống và hoạt động pháp lý, việc “không đủ chứng cứ, tài liệu” là nguyên nhân chiếm đến hơn phần lớn các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt hành chính/hình sự.

Pháp luật dựa trên nguyên tắc “trọng chứng hơn trọng lời khai”. Cơ quan Nhà nước chỉ ra quyết định xử phạt khi có hệ thống chứng cứ đạt đủ 3 tính chất: khách quan, liên quan và hợp pháp.

Dưới đây là sự khác biệt cốt lõi giữa những gì người dân nghĩ là chứng cứ và những gì pháp luật thực sự công nhận:

– Nhóm tài liệu dễ bị từ chối (Chỉ là “dấu hiệu”, không phải chứng cứ)

Nhiều người tốn rất nhiều công sức để thu thập các tài liệu dưới đây, nhưng khi nộp lên cơ quan chức năng thì thường bị đánh giá là chưa đủ căn cứ:

Tin nhắn văn bản (SMS, Zalo, Messenger): Dù nội dung có mùi mẫn, xưng hô “vợ – chồng”, hẹn hò khách sạn hay thừa nhận yêu đương thì đây cũng chỉ chứng minh được hai người có quan hệ tình cảm bất chính, chưa chứng minh được họ có hành vi “chung sống” trên thực tế.

Hình ảnh, video đi chơi, ôm ấp: Tương tự như tin nhắn, hình ảnh nắm tay, hôn nhau hay đi du lịch chung chỉ thể hiện mối quan hệ trên mức bạn bè, hoàn toàn không có giá trị chứng minh họ đã lập dòng, góp gạo thổi cơm chung.

Clip “bắt ghen” tại nhà nghỉ, khách sạn: Việc bắt quả tang hai người đang ở chung một phòng trong trang phục nhạy cảm chỉ cấu thành hành vi quan hệ tình dục lén lút (tình một đêm). Cơ quan chức năng không thể dựa vào một vài lần ở khách sạn để kết luận họ “chung sống như vợ chồng”.

– Các lỗi thu thập khiến chứng cứ bị coi là “Bất hợp pháp”

Một tài liệu dù phản ánh đúng sự thật nhưng nếu thu thập sai phương pháp thì sẽ bị Tòa án hoặc cơ quan điều tra loại bỏ, không xem xét vì vi phạm quyền đời tư cá nhân theo Bộ luật Dân sự:

Lén lút cài định vị, camera ẩn trong phòng riêng của người khác khi chưa được phép.

Hack tài khoản Facebook, Zalo, tự ý vào điện thoại sao chép dữ liệu khi không có sự đồng ý của chủ sở hữu.

Sử dụng các biện pháp khống chế, hành hung, ép buộc làm văn bản cam kết, tự thú nhận tội ngoại tình.

Vậy tài liệu nào mới đủ trọng lượng để xử phạt?

Để cơ quan chức năng có đủ cơ sở xử lý vi phạm hành chính (phạt tiền) hoặc hình sự, hồ sơ tố cáo bắt buộc phải có các tài liệu chứng minh được yếu tố cư trú và đời sống chung:

Loại tài liệu / Chứng cứ Nội dung chứng minh cụ thể
Biên bản kiểm tra hành chính Do Công an xã/phường lập khi kiểm tra lưu trú đột xuất, ghi nhận hai người đang ở chung một nhà/phòng trọ mà không đăng ký tạm trú, hoặc có đăng ký nhưng sai quy định.
Văn bản xác minh từ địa phương Lời khai, biên bản xác minh có chữ ký của Tổ trưởng dân phố, Trưởng thôn hoặc hàng xóm xung quanh xác nhận: “Hai người này dọn về ở cùng nhau, cùng đi chợ, sinh hoạt công khai và mọi người xung quanh đều coi họ là vợ chồng”.
Hợp đồng và hóa đơn chung Hợp đồng thuê nhà do cả hai cùng ký tên; hoặc các hóa đơn tiền điện, nước, internet, phiếu thu tiền quản lý chung cư đứng tên một trong hai người tại địa chỉ đang sống chung.
Chứng cứ về con cái, tài sản Giấy khai sinh của con chung (nếu có) đứng tên cả hai; hoặc các giấy tờ mua sắm tài sản lớn trong nhà (tivi, tủ lạnh, xe máy) đứng tên chung hoặc có dòng tiền góp chung.

Nếu bên bị phản bội chỉ có các chứng cứ ở nhóm (1), cách tốt nhất không phải là gửi đơn tố cáo hành chính (vì khả năng cao sẽ bị bác đơn do thiếu căn cứ), mà nên giữ các tài liệu đó để làm tài liệu bổ trợ tại Tòa án khi ly hôn. Dù không phạt tiền được đối phương, nhưng Tòa án vẫn sẽ nhìn vào các tin nhắn, hình ảnh đó để đánh giá lỗi vi phạm đạo đức lối sống, từ đó tạo lợi thế lớn khi chia tài sản hoặc giành quyền nuôi con.

5. Người vi phạm chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý

  • Về hành chính: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính do cố ý thì bị xử phạt, nhưng chỉ áp dụng hình thức nhắc nhở, cảnh cáo, không phạt tiền.

  • Về hình sự: Người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182 BLHS). Người dưới 16 tuổi (ví dụ trường hợp tảo hôn hoặc sống chung khi chưa đủ tuổi) sẽ không bị xử lý hình sự về tội danh này.

Trên đây là tổng hợp các trường hợp ngoại tình không bị xử phạt phổ biến nhất hiện nay. Mặc dù có thể không bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính hoặc hình sự do vướng các điều kiện pháp lý hoặc thiếu chứng cứ, hành vi ngoại tình vẫn là căn cứ rõ ràng nhất để tòa án giải quyết cho ly hôn do hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đồng thời là yếu tố bất lợi khi tòa xem xét quyền nuôi con và phân chia tài sản khi ly hôn.

Ngoại tình bị xử phạt như thế nào?

Hiện nay hành vi ngoại tình (vi phạm chế độ một vợ một chồng) không chỉ bị lên án về mặt đạo đức mà còn là hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo mức độ và hậu quả gây ra, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1. Xử phạt hành chính (Phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng)

Theo Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP, người nào đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác (hoặc người chưa có vợ/chồng nhưng chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng/vợ) sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Lưu ý về cụm từ “Chung sống như vợ chồng”: Được hiểu là việc các bên tổ chức cuộc sống chung, có tài sản chung, có con chung và được mọi người xung quanh coi như vợ chồng.

2. Xử lý hình sự (Phạt tù hoặc cải tạo không giam giữ)

Nếu hành vi ngoại tình gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015.

Khung 1: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm

Áp dụng đối với người thuộc một trong các trường hợp:

  • Hành vi chung sống như vợ chồng làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc cả hai bên dẫn đến ly hôn.
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Khung 2: Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

Áp dụng nếu hành vi thuộc một trong các trường hợp nghiêm trọng hơn:

  • Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát.
  • Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

3. Bị ảnh hưởng khi giải quyết ly hôn

Dù không bị phạt tiền hay đi tù, người có hành vi ngoại tình chắc chắn sẽ gặp bất lợi lớn khi vụ việc được đưa ra Tòa án để giải quyết ly hôn:

  • Về chia tài sản: Theo Luật Hôn nhân và Gia đình, dù tài sản chung về nguyên tắc là chia đôi, nhưng Tòa án sẽ xem xét đến yếu tố “lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”. Người ngoại tình (có lỗi làm đổ vỡ hôn nhân) thường sẽ bị chia phần tài sản ít hơn.
  • Về quyền nuôi con: Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ (đạo đức, lối sống, thời gian chăm sóc). Người có hành vi ngoại tình, bỏ bê gia đình thường bị đánh giá thấp hơn về tư cách đạo đức, gây bất lợi khi giành quyền nuôi con.

4. Đối với cán bộ, công chức, viên cử, đảng viên

Nếu người ngoại tình là Đảng viên hoặc cán bộ, công chức, viên chức, ngoài việc bị xử lý theo pháp luật, họ còn phải chịu các hình thức kỷ luật nghiêm khắc của tổ chức:

  • Đảng viên: Có thể bị kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, cách chức cho đến khai trừ khỏi Đảng tùy theo mức độ vi phạm (theo Quy định 69-QĐ/TW).
  • Công chức, viên chức: Có thể bị khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức hoặc buộc thôi việc.

Công ty thám tử Hoàn Cầu cung cấp dịch vụ thám tử điều tra ngoại tình trên toàn quốc, nếu bạn đang nghi vấn người thân không chung thủy, hãy liên hệ với công ty thám tử Hoàn Cầu để được trợ giúp.

CÔNG TY THÁM TỬ HOÀN CẦU
Đã điều tra là phải ra vấn đề!

Check Also

Tất cả đàn ông trên thế giới này đều giống người yêu cũ của tôi

Tất cả đàn ông trên thế giới này đều giống người yêu cũ của tôi, …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *